<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Kiến Thức Chăn Nuôi &#8211; VIET-ACC</title>
	<atom:link href="https://www.viet-acc.com/category/kien-thuc-chan-nuoi/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://www.viet-acc.com</link>
	<description>NÂNG TẦM CHĂN NUÔI TỐT, THỰC PHẨM TỐT</description>
	<lastBuildDate>Tue, 30 Jul 2024 09:13:45 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.2.10</generator>
	<item>
		<title>MYCOTOXINS: RỦI RO VÔ HÌNH TRONG THỨC ĂN CHĂN NUÔI</title>
		<link>https://www.viet-acc.com/mycotoxins-rui-ro-vo-hinh-trong-thuc-an-chan-nuoi/</link>
					<comments>https://www.viet-acc.com/mycotoxins-rui-ro-vo-hinh-trong-thuc-an-chan-nuoi/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Editor]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 30 Jul 2024 06:35:08 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Kiến Thức Chăn Nuôi]]></category>
		<category><![CDATA[mycotoxins]]></category>
		<category><![CDATA[nấm độc]]></category>
		<category><![CDATA[thức ăn chăn nuôi]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://www.viet-acc.com/?p=1257</guid>

					<description><![CDATA[<p>Mycotoxins là chất độc do nấm sản xuất và là chất trung gian thứ cấp của nấm, với hơn 300 loại đã được xác định. Trong thức ăn chăn nuôi, cái loại mycotoxins chính thường gặp gồm aflatoxins và ochratoxins từ nấm Aspergillus, zearalenone và...</p>
<p>The post <a rel="nofollow" href="https://www.viet-acc.com/mycotoxins-rui-ro-vo-hinh-trong-thuc-an-chan-nuoi/">MYCOTOXINS: RỦI RO VÔ HÌNH TRONG THỨC ĂN CHĂN NUÔI</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="https://www.viet-acc.com">VIET-ACC</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p>Mycotoxins là chất độc do nấm sản xuất và là chất trung gian thứ cấp của nấm, với hơn 300 loại đã được xác định. Trong thức ăn chăn nuôi, cái loại mycotoxins chính thường gặp gồm aflatoxins và ochratoxins từ nấm Aspergillus, zearalenone và fumonisins từ nắm Furarium, và citrinin từ nấm Penicillium.</p>



<p>Mật độ hoạt động của mycotoxin trải rộng toàn cầu. Hơn 25% ngũ cốc trên thế giới bị ô nhiễm bởi mycotoxin, trong đó, 80-100% ngô ở Mỹ bị ô nhiễm bởi chất độc do nấm Furasium tạo ra. Các loại ngũ cố như ngô và lúa ở Trung Quốc thường bị ô nhiễm bới hai hoặc nhiều lại mycotoxin.&nbsp;</p>



<p>Mycotoxins có tác động rất có hại đối với sức khỏe động vật và con người. Chúng gây ra những biến đổi sinh hóa bất thường trong cơ thể như can thiệp vào quá trình tổng hợp RNA và protein. Những độc tố này còn gây chết tế bào sớm, dẫn đến sự suy giảm của hệ miễn dịch và gây ung thư.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large"><img decoding="async" width="1024" height="633" src="https://www.viet-acc.com/wp-content/uploads/2024/07/monotoxins-1024x633.png" alt="" class="wp-image-1258" srcset="https://www.viet-acc.com/wp-content/uploads/2024/07/monotoxins-1024x633.png 1024w, https://www.viet-acc.com/wp-content/uploads/2024/07/monotoxins-300x185.png 300w, https://www.viet-acc.com/wp-content/uploads/2024/07/monotoxins-768x475.png 768w, https://www.viet-acc.com/wp-content/uploads/2024/07/monotoxins-700x433.png 700w, https://www.viet-acc.com/wp-content/uploads/2024/07/monotoxins.png 1430w" sizes="(max-width: 1024px) 100vw, 1024px" /></figure></div>


<p>Đặc biệt, aflatoxin là một trong những mycotoxins nguy hiểm nhất, có độc tính cao, gây rối loạn tế bào gan, suy giảm chức năng gan và có thể dẫn đến ung thư. Triệu chứng của tác động aflatoxin thường xuất hiện rõ rệt ở lợn và gà, như không muốn ăn, vàng da, rối loạn vận động, tiêu chảy, giảm tốc độ tăng trưởng, và tăng tỷ lệ tử vong.</p>



<p>Do tính độc hại cao, tại Trung Quốc, tiêu chuẩn về mức độ cho phép tổng số lượng nấm trong nguyên liệu thô được quy định chặt chẽ. Ví dụ, ngũ cốc và các sản phẩm từ ngũ cốc phải có tổng số lượng nấm &lt;40.000#/g, và bột cá thức ăn từ thịt và xương &lt;20.000#/g. Các loại độc tố nấm phổ biến khi lưu trữ gồm aflatoxin, ochratoxin A, T-2 toxin, DON (vomitoxin), zearalenone, fumonisins, và citrinin.</p>



<p>Hiện nay, đã có các giải pháp kiểm soát mycotoxin như ngăn chặn sự nhiễm từ nguyên liệu thô, ức chế sự phát triển trong quá trình lưu trữ, giải độc bằng phương tiện hóa học, và loại bỏ bằng chất hấp phụ. Mycotoxins là mối đe dọa vô hình nhưng nghiêm trọng, gây những mối nguy tiềm tàng và làm giảm lợi nhuận trong chăn nuôi. Việc áp dụng các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát mycotoxin cần được thực hiện chặt chẽ để đảm bảo chất lượng thức ăn và sức khỏe động vật.</p>
<p>The post <a rel="nofollow" href="https://www.viet-acc.com/mycotoxins-rui-ro-vo-hinh-trong-thuc-an-chan-nuoi/">MYCOTOXINS: RỦI RO VÔ HÌNH TRONG THỨC ĂN CHĂN NUÔI</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="https://www.viet-acc.com">VIET-ACC</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://www.viet-acc.com/mycotoxins-rui-ro-vo-hinh-trong-thuc-an-chan-nuoi/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>6 bước trong lập công thức thức ăn chăn nuôi</title>
		<link>https://www.viet-acc.com/6-buoc-trong-lap-cong-thuc-thuc-an-chan-nuoi/</link>
					<comments>https://www.viet-acc.com/6-buoc-trong-lap-cong-thuc-thuc-an-chan-nuoi/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Editor]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 20 Jun 2018 03:50:49 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Kiến Thức Chăn Nuôi]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://www.viet-acc.com/?p=393</guid>

					<description><![CDATA[<p>Công thức thức ăn vẫn còn là một bí ẩn không chỉ đối với hầu hết sinh viên mới ra trường mà ngay cả đối với một số chuyên gia, những người đôi khi mới đụng chạm đến vấn đề này.</p>
<p>The post <a rel="nofollow" href="https://www.viet-acc.com/6-buoc-trong-lap-cong-thuc-thuc-an-chan-nuoi/">6 bước trong lập công thức thức ăn chăn nuôi</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="https://www.viet-acc.com">VIET-ACC</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="noidung-s">
<p><strong>Công thức thức ăn vẫn còn là một bí ẩn không chỉ đối với hầu hết sinh viên mới ra trường mà ngay cả đối với một số chuyên gia, những người đôi khi mới đụng chạm đến vấn đề này.</strong></p>
<p>Hầu hết các trường đại học giảng về công thức thức ăn trong một hoặc hai phiên, và sau đó chỉ mang tính bề ngoài vì bất kỳ phân tích sâu nào cũng đòi hỏi kinh nghiệm thực tiễn; các phòng thí nghiệm chuyên làm công thức thức ăn rất hiếm! Như vậy, hầu hết sinh viên tốt nghiệp có bằng cấp về khoa học động vật hoặc thú y đều có một ý tưởng mơ hồ về việc thức ăn được hình thành như thế nào. Đó là do kinh nghiệm cay đắng, được gọi là phương pháp thử và sai, là cách mà hầu hết các chuyên gia trải qua để biết rõ ràng về các cách thức tạo ra một công thức thức ăn.</p>
<p>Tất nhiên, tự học lập công thức thức ăn không phải là một nhiệm vụ bất khả thi. Có một số sách về đề tài này, và internet cung cấp nhiều thông tin có giá trị. Tuy nhiên, nếu không có người cố vấn hoặc một khóa học về công thức thức ăn, khó có thể có được những kỹ năng phân biệt những người hiểu cách thức lập công thức thức ăn với những người thực sự có thể xây dựng một sản phẩm thành công. Điều này có vẻ như là một nghịch lý, với số lượng lớn chuyên gia dinh dưỡng, những người xây dựng công thức thức ăn chăn nuôi hàng ngày. Theo kinh nghiệm của tôi, giống như trong bất kỳ nghề nghiệp nào, có nhiều cấp độ chuyên môn và trong khi đa số có thể xây dựng các khẩu phần cơ bản, nhưng khi nói đến các sản phẩm đặc thù hoặc những thay đổi đáng kể, phần lớn sẽ không biết làm gì khác hơn là vẫn tuân theo những chuẩn mực thông thường.</p>
<p><img decoding="async" loading="lazy" class="size-full wp-image-338 aligncenter" src="https://www.viet-acc.com/wp-content/uploads/2018/06/1528276943562.png" alt="" width="440" height="260" srcset="https://www.viet-acc.com/wp-content/uploads/2018/06/1528276943562.png 440w, https://www.viet-acc.com/wp-content/uploads/2018/06/1528276943562-300x177.png 300w" sizes="(max-width: 440px) 100vw, 440px" /></p>
<p><strong>Lập công thức thành công theo chủ đích</strong></p>
<p>Ở đây đáng đề cập đến hai trường hợp thực sự đã xảy ra trong sự nghiệp của tôi. Là một nhà dinh dưỡng chuyên nghiệp, với gần 30 năm để xây dựng thức ăn – tôi đã xây dựng chương trình lập công thức thức ăn cho riêng mình trong năm đại học đầu tiên của tôi, sử dụng mã IBM – Tôi thường sử dụng 2 ví dụ dưới đây như một dấu hiệu cho thấy ngành thức ăn chăn nuôi nhìn nhận việc lập công thức như thế nào</p>
<p>Trường hợp đầu tiên là công thức thức ăn cho heo con được thiết kế cho một công ty thức ăn chăn nuôi quốc gia để thay thế cho một sản phẩm cũ không còn phù hợp với thị trường của họ. Khi giám đốc điều hành nhìn thấy sản phẩm mới hoạt động ra sao, cô ấy đã ngay lập tức khóa lại công thức và cấm thậm chí tôi thay đổi nó. Chỉ khi nào mọi thứ trở nên khó khăn do các nguyên liệu không sẵn có, cô ấy yêu cầu tôi sửa đổi công thức ban đầu, và không phải là không chút e ngại về khả năng của tôi – cô ấy thậm chí đã thử công thức mới trước khi chính thức cho sản xuất.</p>
<p>Trường hợp thứ hai là về một hỗn hợp axit hữu cơ cho gia cầm tôi thiết kế cho một khách hàng khác từ lâu. Khách hàng này vẫn tiếp tục sử dụng nó sau nhiều năm và thực hiện điều này mặc dù tôi đã đề nghị cho phép tôi (miễn phí) cập nhật hỗn hợp áp dụng công nghệ mới. Thay vào đó, anh ta thích trả tiền mua nguyên vật liệu đắt tiền (cũ). Bây giờ, tôi là một tín đồ thực sự của câu nói “nếu nó không bị hỏng, không sửa chữa nó”, nhưng hai ví dụ này giúp minh họa cách tiếp cận hầu như tôn kính các công thức thành công trong ngành công nghiệp của chúng ta. Tôi thường có ấn tượng rằng một số người nghĩ rằng thiết kế công thức thành công là do tình cờ chứ không phải bởi chủ đích.</p>
<p>Do đó, để giải thích rằng công thức thức ăn không phải là phép thuật mà là kết quả của nghiên cứu và kinh nghiệm, tôi đã cố gắng vạch ra dưới đây toàn bộ quá trình trong sáu bước. Điều này không phải là để dạy làm thế nào để xây dựng, mà là để giúp hiểu được quá trình xây dựng công thức. Điều này đòi hỏi sự tương tác lâu dài và sự đào tạo về vấn đề liên quan. Cái thứ hai (có nghĩa là, sự hiểu biết) là điều bắt buộc đối với tất cả chúng ta để thảo luận các công thức với những người thiết kế hoặc sử dụng chúng.</p>
<p><strong>1. Xác định đối tượng vật nuôi sẽ nhận thức ăn theo công thức đã lập. </strong></p>
<p>Yêu cầu một chuyên gia dinh dưỡng chuẩn bị một công thức gà thịt giống như yêu cầu một kiến trúc sư thiết kế một ngôi nhà, bởi vì không có bất kỳ trình một mô tả chi tiết nào khác. Xác định loài động vật là chưa đủ. Chúng ta cần xác định khối lượng thú hoặc tuổi bắt đầu kết thúc – thậm chí là đặc điểm di truyền học. Do đó, một công thức được thiết kế cho một con gà thịt Ross được cho ăn từ hai đến bốn tuần khác với thức ăn broiler Brob cùng tuổi. Tương tự như vậy, ngay cả trong cùng một dòng theo di truyền, thức ăn bắt đầu khác biệt rõ rệt so với thức ăn kết thúc. Hơn nữa, thức ăn đặc thù đòi hỏi nhiều thông tin chi tiết hơn hơn, nhưng điều này không nằm trong nội dung của thảo luận này.</p>
<p><strong>2. Chọn đúng dữ liệu về nhu cầu dinh dưỡng. </strong></p>
<p>Rất nhiều công ty di truyền công bố ước tính của họ về các yêu cầu dinh dưỡng cho từng độ tuổi hoặc giai đoạn sẽ được sử dụng cùng với các sản phẩm của họ. Các chuyên gia dinh dưỡng có kinh nghiệm sẽ xem xét các thông tin như là cơ sở ban đầu và điều chỉnh cho phù hợp với nhu cầu của từng trang trại. Ví dụ, một trại nuôi gà thịt gặp trường hợp chết sớm ở những con gà phát triển nhanh nhất sẽ cần thức ăn có mức năng lượng / chất dinh dưỡng thấp hơn mức bình thường được khuyến cáo. Có rất nhiều trường hợp như vậy, hầu hết là phổ biến, nhưng một số lại “hơi kỳ lạ”. Khi các công ty di truyền không công bố bảng yêu cầu dinh dưỡng của mình – hoặc khi nhà dinh dưỡng cho rằng chưa đủ – thì khi đó có rất nhiều cơ quan khoa học cung cấp thông tin tương tự. Lựa chọn đúng thông tin cần thiết vẫn là một trong những chủ đề nóng nhất của cuộc tranh luận giữa các chuyên gia dinh dưỡng.</p>
<p><strong>3. Lập danh sách các nguyên liệu sẵn có với đặc điểm và giá cả của chúng.<br />
</strong></p>
<p>Động vật sẽ nhận được năng lượng và chất dinh dưỡng từ các nguyên liệu. Vì vậy, một nhà dinh dưỡng thương mại cần làm việc trên nguyên liệu mà không phải là chất dinh dưỡng tinh khiết. Danh sách các nguyên liệu sẵn có và giá cả của chúng thường là tất cả những gì dễ có được, nhưng trong hầu hết trường hợp, cần thêm thông tin về đặc điểm của nguyên liệu. Lúa mì là một nguyên liệu cung cấp một ví dụ rất thú vị. Lúa mì không chỉ là lúa mỳ. Có lúa mì mềm và cứng với độ chênh lệch lớn về hàm lượng đạm thô. Có lúa mì từ nội địa hay quốc tế; trước đây rất dễ dàng mô tả đặc điểm, sau này hầu như không thể. Ngay cả lúa mì của cùng một gien di truyền có thể khác biệt rõ rệt trong thành phần dinh dưỡng tùy thuộc vào vùng và khí hậu mà nó đã được trồng. Tất cả các thông tin như vậy sẽ giúp các nhà dinh dưỡng học lựa chọn hoặc chuẩn bị một ma trận dinh dưỡng cho các nguyên liệu chính xác để sử dụng. Không làm như vậy sẽ gây nguy thú được nuôi dưới hoặc quá mức nhu cầu dinh dưỡng, cả hai đều không phải là kết quả có lợi.</p>
<p><strong>4. Quyết định giới hạn sử dụng tối đa và tối thiểu.<br />
</strong></p>
<p>Không phải tất cả các thành phần đều có thể được sử dụng mà không có giới hạn. Bắp và bột đậu nành là hai thành phần hiếm khi được giới hạn trong hầu hết các công thức thức ăn. Các thành phần khác đòi hỏi mức tối đa bởi vì chúng quá đắt hoặc có quá nhiều yếu tố kháng dinh dưỡng. Bột cá là một ví dụ: sử dụng nhiều thức ăn trở nên quá đắt. Một số động vật có thể không nên cho ăn thức ăn có chứa dầu cá, và các sản phẩm của chúng vì mùi của nó có thể ảnh hưởng đến mùi sản phẩm (trứng, sữa…). Trong một vài trường hợp, cần phải có tối thiểu, chẳng hạn như khẩu phần ăn của động vật non đòi hỏi phải có nguyên liệu nhạy cảm và đắt tiền. Mặc dù có các bảng liệt kê mức tối đa cho phép đối với hầu hết các nguyên liệu đặc thù, những con số này thường thay đổi dựa trên các nghiên cứu mới và tiến bộ trong chọn giống cây trồng hoặc quy trình sản xuất các nguyên liệu. Do đó, chuyên gia dinh dưỡng vẫn quyết định giảm hay tăng giới hạn tối đa đó (ví dụ khi sử dụng các sản phẩm phụ không rõ nguồn gốc), (ví dụ: khi sử dụng các loại thực vật khác nhau được biết là có chứa ít yếu tố kháng dinh dưỡng).</p>
<p><strong>5. Sử dụng một chương trình tổ hợp khẩu phần để chuẩn bị công thức.<br />
</strong></p>
<p>Một số người tin rằng có một chương trình tổ hợp khẩu phần là tất cả những gì bạn cần để xây dựng công thức thức ăn. Họ đã giả định sai lầm, rằng các dữ liệu trên đã được nhập trước và chúng là chính xác; không có gì xa hơn sự thật. Hầu hết các công ty bán các chương trình tổ hợp khẩu phần thức ăn không chịu trách nhiệm về dữ liệu mà họ cung cấp, nó chỉ dành cho mục đích đào tạo hoặc thử nghiệm phần mềm demo của họ. Nhưng ngay cả khi không có dữ liệu cần thiết để chạy một phần mềm xây dựng công thức thức ăn, việc chọn đúng chương trình là một trải nghiệm khó khăn. Miễn phí, độc lập, các chương trình phức tạp, nhưng chúng thường bị sự cố. Các chương trình dựa trên nền tảng đám mây được hỗ trợ tốt hơn và trở nên ngày càng sẵn có – các phiên bản cơ bản là miễn phí tuy nhiên chúng có các khả năng giới hạn, thường là hơn bản demo miễn phí một chút. Một chương trình bảng tính như Excel từ Microsoft với một chức năng bổ sung Solver có thể được sử dụng để tạo chương trình lập công thức thức ăn tối ưu của riêng mình, nhưng điều này đòi hỏi kiến thức excel nâng cao. Cuối cùng, một phần mềm chuyên nghiệp có thể được bán với các mức giá khác nhau cho các chức năng khác nhau. Ở đây, một giao diện người dùng thân thiện là quan trọng nhất vì hầu hết các chương trình đều tập trung vào khả năng, thường là sự chuyển đổi thô từ các hệ điều hành DOS cũ, quên rằng người dùng Windows cần trải nghiệm các giao diện khác nhau.</p>
<p><strong>6. Xem xét và điều chỉnh công thức để đáp ứng các giới hạn của quy trình sản xuất.<br />
</strong></p>
<p>Liệu rằng có công thức là mọi việc đã xong? Thật không may, công thức mới chỉ là bắt đầu. Không bao giờ công thức được xây dựng với chỉ với một lần chạy phần mềm. Bản thảo đầu tiên cần được xem xét. Thông thường một số nguyên liệu rẻ tiền như muối hoặc bột đá, bị lấy vào quá mức vì một số bảng nhu cầu dinh dưỡng không có giới hạn dưới để buộc chương trình sử dụng một nguyên liệu đắt tiền, để giảm giá thành công thức chương trình sẽ lấy nhiều nguyên liệu rẻ tiền. Và, ngay cả sau khi sửa những sai phạm này, ta vẫn phải nhìn vào công thức từ quan điểm của sản xuất. Chẳng hạn, liệu 0,15% lúa mì (1,5 kg / tấn) có cần trong công thức? khi hầu hết các máy trộn có mức nạp tối thiểu 5 kg? Hoặc, máy trộn có xử lý được 10% dầu đậu nành? hoặc máy ép viên có xử lý được 40% váng sữa? Những câu hỏi này đòi hỏi một sự hiểu biết về quá trình sản xuất thức ăn ở chính nơi mà công thức sẽ được chuyển thành một sản phẩm hữu hình. Đây là những điều bạn học được tại hiện trường!</p>
<p>Tôi thường xuyên nhận được câu hỏi về chương trình lập công thức thức ăn nào phù hợp. Tôi từ chối trả lời họ, và tôi hy vọng bây giờ các bạn đã rõ vì sao. Xây dựng công thức thức ăn là một nhiệm vụ đòi hỏi trách nhiệm cao. Trong công việc đầu tiên của tôi, có trường hợp yêu cầu cho ba tiến sĩ về dinh dưỡng xem xét và ký tắt mỗi thay đổi nhỏ trong công thức – một trong số họ là người thực hiện những thay đổi. Bài học đầu tiên này rèn cho tôi tính cực kì cẩn thận với mọi công thức tôi thiết kế và không bao giờ đưa ra bất cứ điều gì trước khi tôi tin tưởng tất cả các bước trên đã được thực hiện. Bất cứ điều gì ít hơn sẽ gây thiệt hại cho khách hàng, động vật, môi trường, người tiêu dùng và người cố vấn của tôi.</p>
</div>
<p>The post <a rel="nofollow" href="https://www.viet-acc.com/6-buoc-trong-lap-cong-thuc-thuc-an-chan-nuoi/">6 bước trong lập công thức thức ăn chăn nuôi</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="https://www.viet-acc.com">VIET-ACC</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://www.viet-acc.com/6-buoc-trong-lap-cong-thuc-thuc-an-chan-nuoi/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Có thể cắt giảm hoặc thay thế vitamin E trong thức ăn chăn nuôi ?</title>
		<link>https://www.viet-acc.com/co-the-cat-giam-hoac-thay-the-vitamin-e-trong-thuc-an-chan-nuoi/</link>
					<comments>https://www.viet-acc.com/co-the-cat-giam-hoac-thay-the-vitamin-e-trong-thuc-an-chan-nuoi/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Editor]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 20 Jun 2018 03:47:38 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Kiến Thức Chăn Nuôi]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://www.viet-acc.com/?p=390</guid>

					<description><![CDATA[<p>Vitamin E có thể được thay thế hoặc tiết kiệm bằng cách sử dụng các chất chống oxy hóa khác, nhưng không bao giờ thay thế được hoàn toàn; bài viết này giải thích lý do vì sao vitamin E rất quan trọng đối với...</p>
<p>The post <a rel="nofollow" href="https://www.viet-acc.com/co-the-cat-giam-hoac-thay-the-vitamin-e-trong-thuc-an-chan-nuoi/">Có thể cắt giảm hoặc thay thế vitamin E trong thức ăn chăn nuôi ?</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="https://www.viet-acc.com">VIET-ACC</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="shadfresocial"><strong>Vitamin E có thể được thay thế hoặc tiết kiệm bằng cách sử dụng các chất chống oxy hóa khác, nhưng không bao giờ thay thế được hoàn toàn; bài viết này giải thích lý do vì sao vitamin E rất quan trọng đối với sức khỏe và sự tăng trưởng của động vật.</strong></div>
<div class="noidung-s">
<p>Vitamin E là một loại vitamin đắt tiền, có thời điểm vitamin này rất đắt đỏ. Do vậy, hầu hết các nhà sản xuất premix và thức ăn chăn nuôi duy trì bổ sung vitamin E dưới sự kiểm soát nghiêm ngặt. Nhiều năm kinh nghiệm làm việc với vai trò là một chuyên gia dinh dưỡng thực địa, tôi nhận thấy trong thức ăn chỉ chứa một nửa lượng vitamin E so với khuyến cáo của Hội đồng nghiên cứu quốc gia (NRC) dành cho động vật dạ dày đơn.</p>
<p><img decoding="async" loading="lazy" class="aligncenter wp-image-11505 size-full" src="https://nhachannuoi.vn/wp-content/uploads/2017/11/vitamin-e.jpg" sizes="(max-width: 467px) 100vw, 467px" srcset="https://nhachannuoi.vn/wp-content/uploads/2017/11/vitamin-e.jpg 467w, https://nhachannuoi.vn/wp-content/uploads/2017/11/vitamin-e-300x193.jpg 300w" alt="Có thể cắt giảm hoặc thay thế vitamin E trong thức ăn chăn nuôi ?" width="467" height="300" /><em>Dầu và các loại hạt ngũ cốc là những nguồn phong phú vitamin E</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Đúng như tôi dự đoán, chế độ ăn như vậy đã gây ra những vấn đề nghiêm trọng, vì vậy các nhà sản xuất cần được tư vấn tham khảo. Đồng thời, tôi cũng đã thử nghiệm sử dụng vitamin E ở mức rất cao (cao hơn đến 10 lần so với khuyến cáo của NRC), mà không cần lý do rõ ràng hoặc kết quả có lợi, và tốn kém chi phí khá lớn cho các nhà chăn nuôi. Có một số ý kiến tranh luận xoay quanh việc sử dụng vitamin E, và tôi tin điều quan trọng là thiết lập bổ sung đúng mức vitamin E vào đúng giai đoạn phát triển, đúng chế độ ăn và đúng mục đích. Dưới đây là 6 khía cạnh rất quan trọng liên quan đến việc bổ sung vitamin E mà các chuyên gia dinh dưỡng cần ghi nhớ khi thiết lập thông số kỹ thuật cho dưỡng chất đắt tiền này trong khẩu phần thức ăn.</p>
<p><strong>1. Vitamin chống oxy hóa</strong></p>
<p>Nếu chỉ đề cập đến chức năng chính, vai trò chủ yếu của vitamin E là một chất chống oxy hóa mạnh. Quá trình oxy hóa là một hiện tượng tự nhiên do sự trao đổi chất bình thường hàng ngày ở mọi loài sinh vật. Đây là một tác dụng phụ không thể tránh khỏi, do đó các sinh vật sử dụng chất chống oxy hóa để bảo vệ cơ thể. Vitamin E là vitamin tan trong dầu, hoạt động như một chất chống oxy hóa trong cấu trúc tế bào – chủ yếu bảo vệ lớp màng giàu lipid của tế bào khỏi hư hại từ quá trình oxy hóa (sự thoái hóa). Ngược lại, selen và vitamin C có vai trò chủ yếu là chất chống oxy hóa bên ngoài, hoạt động trong dịch thể và khoảng trống giữa các tế bào.</p>
<p><strong>2. Hệ thống các chất chống oxy hóa</strong></p>
<p>Vitamin E là một phần trong hệ thống các chất chống oxy hóa rộng lớn, bao gồm nhiều hợp chất. Trong một số trường hợp liên quan đến stress oxy hóa, vật nuôi cần cả vitamin E và selen do có thể bị thiếu hụt khi xuất hiện bệnh. Những ca bệnh như thế bao gồm tích nước ngoài mô, hoại tử gan và bệnh trắng cơ. Ở đây dường như xuất hiện hiệu ứng tương tác giữa một bên là vitamin C, và phía khác là selen cộng với vitamin C. Mặc dù vật nuôi có khả năng sản xuất đủ lượng vitamin C (không giống như ở người) đáp ứng nhu cầu thông thường, một vài nghiên cứu đã chỉ ra những lợi ích từ việc bổ sung thêm vitamin C từ nguồn bên ngoài. Liệu điều này có thể phát sinh do không phát hiện được sự thiếu hụt vitamin E?</p>
<p><strong>3. Nhu cầu và lợi ích</strong></p>
<p>Nhu cầu thông thường cần cho sự duy trì và tăng trưởng được quy định trong các khuyến cáo của NRC nêu trên. Tuy nhiên, các mức bổ sung siêu dinh dưỡng (ít nhất là 2 lần so với mức dinh dưỡng tối thiểu) đã được chứng minh cho kết quả cải thiện tăng trưởng và sức khỏe vật nuôi đáng kể. Ví dụ, việc bổ sung thêm vitamin E được khuyến cáo cho gà đẻ và heo nái có biểu hiện những vấn đề gan và thận. Điều này cũng đúng đối với thú non có tình trạng hệ thống miễn dịch ở mức thấp. Ngoài ra, khẩu phần ăn có khả năng bị oxy hóa mạnh (chứa hàm lượng cao các axit béo không bão hòa đa – PUFA, hoặc chất béo bị ôi nói chung) cần bổ sung thêm vitamin E. Với những vấn đề về chân khớp liên quan đến viêm khớp do sưng khớp đã được giải quyết thành công với khẩu phần ăn được bổ sung thêm vitamin E. Do quá trình oxy hóa là một yếu tố gây lão hóa, bổ sung thêm vitamin E trong khẩu phần ăn cho thú giống có thể kéo dài tuổi thọ sản xuất của chúng. Vì thế, điều quan trọng là phối hợp hợp lý thông số kỹ thuật trong khẩu phần với các dưỡng chất dự kiến bổ sung, với nhu cầu duy trì và tăng trưởng.</p>
<p><strong>4. Thất thoát, tự nhiên và tổng hợp</strong></p>
<p>Nguồn vitamin E trong thức ăn tự nhiên luôn biến động và nó cũng bị ảnh hưởng bởi quá trình sản xuất. Là vitamin tan trong dầu, vitamin E gắn kết với phần chất béo trong các nguyên liệu. Do đó, những nguyên liệu như đậu nành nguyên béo và mầm lúa mì là những nguồn phong phú vitamin E. Tuy nhiên với những nguyên liệu xay xát kỹ, phơi bày phần chất béo tiếp xúc với quá trình oxy hóa trong môi trường ngoài, do đó sự hao hụt nguồn vitamin E tự nhiên có thể phát sinh. Ngoài ra, vitamin E, và các nguồn bổ sung vitamin E nói riêng rất nhạy cảm với các axit hữu cơ. Về sau này, khi các axit hữu cơ trở thành một thành phần phổ biến trong khẩu phần dinh dưỡng của thú dạ dày đơn, có lẽ đã đến lúc chúng ta cần phải đánh giá lại mức bổ sung vitamin E trong khẩu phần để phòng tránh thiếu hụt.</p>
<p><strong>5. Dạng vitamin E nào là tốt nhất?</strong></p>
<p>Vitamin E có hoạt tính được thể hiện qua các hợp chất tocopherol và tocotrienol. Mỗi hợp chất tồn tại ở một số dạng đồng phân, các đồng phân này có sự khác biệt lớn về hoạt tính sinh học giữa các chất khác trong cùng mỗi nhóm. Một hệ thống quốc tế đã tiêu chuẩn hóa hoạt tính sinh học của các nguồn vitamin E, qua đó hoạt tính sinh học và nhu cầu vitamin E được thể hiện bằng đơn vị IU (đơn vị quốc tế), với 1 IU tương ứng với hoạt tính của 1 mg DL-alpha-tocopheryl acetate. Các đồng phân alpha-tocopherol là nhóm có tầm quan trọng nhất về mặt dinh dưỡng. Các chất này có nhiều trong lá xanh và các nguyên liệu như mầm lúa mì, dầu hoa rum, dầu hướng dương. Ngược lại, gamma-tocopherol có nhiều trong bắp và dầu đậu nành.</p>
<p><strong>6. So sánh các chất chống oxy hóa tự nhiên với vitamin E</strong></p>
<p>Các chất chống oxy hóa có nguồn gốc tự nhiên như các hợp chất polyphenol nhất định, hiện có ở dạng chiết xuất hoặc một phần của các nguyên liệu đặc biệt nào đó. Các hợp chất này cho tác dụng chống oxy hóa mạnh mẽ, có thể giúp tiết kiệm hay thay thế vai trò của vitamin E. Thực tế, vào những thời điểm giá cả vitamin E trở nên đắt đỏ, các chất phụ gia như trên đã được gia tăng sử dụng. Có một hệ số thay thế (ví dụ, x mg polyphenol như từ nguồn này bằng y IU vitamin E), nhưng công thức này đối với mỗi sản phẩm là khác nhau vì không phải tất cả các chất polyphenol đều như nhau (trong thực tế, polyphenol là một nhóm rất lớn và đa dạng các hợp chất). Ngoài ra, quá trình nghiên cứu vẫn còn đang tiến hành và chưa có kết quả cụ thể, nhưng kết quả đầy hứa hẹn. Nhìn chung, ít nhất thì chúng ta có thể thay thế được một phần nhỏ vitamin E bằng các sản phẩm phụ gia như trên, đặc biệt là khi vitamin này được ứng dụng ở mức độ siêu dinh dưỡng.</p>
</div>
<p>The post <a rel="nofollow" href="https://www.viet-acc.com/co-the-cat-giam-hoac-thay-the-vitamin-e-trong-thuc-an-chan-nuoi/">Có thể cắt giảm hoặc thay thế vitamin E trong thức ăn chăn nuôi ?</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="https://www.viet-acc.com">VIET-ACC</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://www.viet-acc.com/co-the-cat-giam-hoac-thay-the-vitamin-e-trong-thuc-an-chan-nuoi/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Kiểm soát giá trị đệm trong thức ăn heo con</title>
		<link>https://www.viet-acc.com/kiem-soat-gia-tri-dem-trong-thuc-an-heo-con/</link>
					<comments>https://www.viet-acc.com/kiem-soat-gia-tri-dem-trong-thuc-an-heo-con/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Editor]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 20 Jun 2018 03:41:33 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Kiến Thức Chăn Nuôi]]></category>
		<category><![CDATA[Uncategorized]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://www.viet-acc.com/?p=387</guid>

					<description><![CDATA[<p>Thực tiễn xây dựng khẩu phần thức ăn heo con hiện đại cần tính đến khả năng đệm của khẩu phần, mục tiêu kiểm soát khả năng đệm đạt dưới 650 meq/kg. &#160; Trong bất kỳ hệ thống chăn nuôi heo thâm canh nào cũng...</p>
<p>The post <a rel="nofollow" href="https://www.viet-acc.com/kiem-soat-gia-tri-dem-trong-thuc-an-heo-con/">Kiểm soát giá trị đệm trong thức ăn heo con</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="https://www.viet-acc.com">VIET-ACC</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><strong>Thực tiễn xây dựng khẩu phần thức ăn heo con hiện đại cần tính đến khả năng đệm của khẩu phần, mục tiêu kiểm soát khả năng đệm đạt dưới 650 meq/kg.</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Trong bất kỳ hệ thống chăn nuôi heo thâm canh nào cũng có chung một thách thức đó là làm sao chuyển heo con từ giai đoạn bú mẹ sang giai đoạn cai sữa một cách mượt mà nhất để đạt được hiệu quả chăn nuôi tốt. Việc này hoàn toàn không mới và cũng đã được nghiên cứu nhiều, được một số nhà nghiên cứu và nhà chăn nuôi phân tích và tổng hợp. Nói tóm lại thách thức chính đối với heo con trong giai đoạn chuyển đổi này là sự thay đổi môi trường, việc bị trộn lẫn với heo con từ các heo nái khác, loại thức ăn mới và hơn nữa hệ tiêu hóa và hệ miễn dịch chưa trưởng thành.</p>
<p><img decoding="async" loading="lazy" class="size-full wp-image-312 aligncenter" src="https://www.viet-acc.com/wp-content/uploads/2018/06/vitaminsvin-e1529391169144.jpg" alt="" width="440" height="293" /></p>
<p>Đối với tất cả những người làm công thức chúng ta, điều cần phải hiểu là trước khi đặt ra mục tiêu tốc độ sinh trưởng, chúng ta cần hỗ trợ thú tạo ra và duy trì một hệ thống tiêu hóa trưởng thành khỏe mạnh. Điều này giúp tăng cao lượng ăn, ổn định hệ vi sinh đường ruột, tiêu hóa dưỡng chất tốt hơn và do vậy cải thiện tốc độ sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Luôn nhớ rằng, xây dựng công thức cho heo con không chỉ là cân bằng amino acid hoặc mật độ năng lượng của khẩu phần, tất nhiên những điều này rất quan trọng song cũng cần chú ý tới các dưỡng chất và chỉ tiêu quan trọng khác nữa. Chẳng hạn khả năng trung hòa axit khẩu phần (dABC), điều này có liên hệ mật thiết với việc lựa chọn nguyên liệu thô cho công thức, việc này cũng có ảnh hưởng quan trọng đến khả năng tiêu hóa thức ăn và sự phát triển của hệ tiêu hóa.</p>
<p><strong>Khả năng trung hòa acid (hay khả năng đệm)</strong></p>
<p>Thuật ngữ khả năng trung hòa acid (hay khả năng đệm) được sử dụng để mô tả khả năng kháng lại việc giảm pH dưới tác động của axit đường ruột HCl của một khẩu phần thức ăn cụ thể.</p>
<p>Việc tiết axit HCl là chức năng tiêu hóa bình thường, cần thiết để tiêu hóa protein. Trong xây dựng công thức thức ăn các chỉ tiêu dABC được thể hiện bằng milliequivalents (meq) của hydro (+) để đưa pH về = 3. Phương trình sau có thể được sử dụng để tính toán:</p>
<p><strong>dABC = {(50ml NaOH*N/P}*1.000</strong></p>
<p><strong><em>N= chuẩn độ của NaOH (eq/l); P= khối lượng mẫu.</em></strong></p>
<p>Khả năng đệm cao dẫn tới khả năng tiêu hóa các chất hữu cơ và đạm thô thấp do vậy ảnh hưởng đến năng suất của heo con. Đồng thời khả năng đệm cao còn ảnh hưởng đến quá trình lên men trong đường ruột, xảy ra tại ruột hồi và ruột tịt nơi mà vi khuẩ rất cần năng lượng lên men để phát triển. Điều này sẽ dẫn đến tăng sự phân giải protein và lần lượt tăng amin và giải phóng amoniac, đó là những chất độc hại dẫn đến tiêu chảy và tăng trưởng kém.</p>
<p>Chuyển qua phần thực tế hơn về xây dựng công thức thức ăn, giá trị đệm của thức ăn thành phẩm phụ thuộc rất nhiều vào các nguồn khoáng và protein, trong khi các loại ngũ cốc và các loại phụ phẩm thường có giá trị đệm thấp nhất (xem bảng 1).</p>
<p>Đối mặt với vấn đề này, việc đầu tiên cần làm là giảm hàm lượng Ca và P trong thức ăn (ở 2 tuần đầu sau cai sữa) tương ứng đến mức 0.60-0.65% và 0.35-0.40%. Điều này có thể được thực hiện thông qua thay thế một phần hoặc toàn phần bột đá (CaCO3) bằng calcium formate (làm nguồn Ca) và song song với việc này, sử dụng monocalcium phosphate thay vì sử dụng DCP (làm nguồn P). Việc này sẽ dẫn đến tăng giá thành nhưng sẽ rất hữu ích trong việc giảm khả năng đệm của thức ăn, trong khi khả năng đệm của CaCO3 là 18.000-20.000 meq/kg thì ở Calcium Farmate là 8.500-9.000 meq/kg.</p>
<p>Tiếp đến, vấn đề kiểm soát hàm lượng đạm thô của công thức ở mức thấp là rất quan trọng tuy nhiên phải đảm bảo cân bằng về axit amin. Chọn lọc và sử dụng các nguyên liệu cung đạm song song với các axit amin tổng hợp giúp dễ dàng đạt được mục tiêu này. Theo kinh nghiệm, xây dựng khẩu phần 17-18% đạm thô cần giữ hàm lượng Lys tiêu hóa hồi tràng ở mức 11.5-12 g/kg, những axit amin khác cần cân bằng theo Lys. Mặc dù vậy không nên loại bỏ các nguyên liệu tốt có giá trị dinh dưỡng cao chỉ vì nó có hàm lượng đạm và giá trị đệm cao. Lưu ý về tổng thể các nguyên liệu thô có trong công thức, tỷ lệ sử dụng phụ thuộc vào giá nguyên liệu và giá trị đệm được thiết lập của công thức, cuối cùng tinh chỉnh lại công thức dựa trên cơ sở khoa hoạc và kinh nghiệm thực tiễn.</p>
<p>Tóm lại — chưa tính đến các lựa chọn bổ sung axit hữ cơ vào thức ăn để làm giảm giá trị đệm một cách nhân tạo — cần nhấn mạnh rằng kinh nghiệm cá nhân của các nhà dinh dưỡng là rất quan trọng về việc lựa chọn nguyên liệu nào cho loại thức ăn nào, liều lượng sử dụng tối đa là bao nhiêu có tính đến tham số chăn nuôi và mục tiêu cụ thể của từng vùng (từng trại) chẳng hạn khối lượng lúc cai sữa, tình trạng sức khỏe, quản lý, phương tiện cơ giới, kết cấu chuồng trại v.v..</p>
<p>Mục tiêu tối ưu là thức ăn cần có giá trị ABC <strong>dưới 650 meq/kg</strong></p>
<p>The post <a rel="nofollow" href="https://www.viet-acc.com/kiem-soat-gia-tri-dem-trong-thuc-an-heo-con/">Kiểm soát giá trị đệm trong thức ăn heo con</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="https://www.viet-acc.com">VIET-ACC</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://www.viet-acc.com/kiem-soat-gia-tri-dem-trong-thuc-an-heo-con/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Điều chỉnh chế độ dinh dưỡng cho heo nái trong giai đoạn chuyển tiếp khi sinh</title>
		<link>https://www.viet-acc.com/383-2/</link>
					<comments>https://www.viet-acc.com/383-2/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Editor]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 20 Jun 2018 03:36:05 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Kiến Thức Chăn Nuôi]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://www.viet-acc.com/?p=383</guid>

					<description><![CDATA[<p>Heo con có sức sống tốt hơn sẽ giúp tăng lợi nhuận trong quá trình chăn nuôi. Dựa trên những thí nghiệm gần đây và kết quả thực hiện chương trình dinh dưỡng tiên tiến đã khẳng định rằng cải thiện dinh dưỡng cho heo...</p>
<p>The post <a rel="nofollow" href="https://www.viet-acc.com/383-2/">Điều chỉnh chế độ dinh dưỡng cho heo nái trong giai đoạn chuyển tiếp khi sinh</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="https://www.viet-acc.com">VIET-ACC</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><strong>Heo con có sức sống tốt hơn sẽ giúp tăng lợi nhuận trong quá trình chăn nuôi. Dựa trên những thí nghiệm gần đây và kết quả thực hiện chương trình dinh dưỡng tiên tiến đã khẳng định rằng cải thiện dinh dưỡng cho heo nái vào những giai đoạn then chốt trong chu kỳ sinh sản sẽ giúp tăng trọng lượng sơ sinh và sức sống của heo con.</strong></p>
<p>Tỷ lệ sống trung bình của heo con ở Châu Âu là 83%, dao động từ 70% – 90%. Con số này bị ảnh hưởng bởi số lượng thai chết lưu và tỷ lệ tử vong trước khi cai sữa trong một lứa sinh. Nếu chúng ta có thể làm giảm tỷ lệ của 2 nguyên nhân này trong lứa sinh thì khả năng sống sẽ tăng lên, thúc đẩy hiệu suất của heo nái và phúc lợi cho heo con.</p>
<p>Kích cỡ lứa sinh lớn hơn là yếu tố thách thức đối với sức sống của heo con. Có thể có nhiều heo con sinh ra trễ hơn, thêm khó khăn cho heo mẹ trong khi sinh và giảm độ đồng đều trong đàn. Những heo con nhẹ cân nói riêng có nhiều nguy cơ tử vong trước khi cai sữa.</p>
<p><a href="http://nhachannuoi.vn/wp-content/uploads/2018/05/heo-nai-de.png"><img decoding="async" loading="lazy" class="aligncenter wp-image-17214 size-full" src="https://nhachannuoi.vn/wp-content/uploads/2018/05/heo-nai-de.png" sizes="(max-width: 469px) 100vw, 469px" srcset="https://nhachannuoi.vn/wp-content/uploads/2018/05/heo-nai-de.png 469w, https://nhachannuoi.vn/wp-content/uploads/2018/05/heo-nai-de-300x192.png 300w" alt="Điều chỉnh chế độ dinh dưỡng cho heo nái trong giai đoạn chuyển tiếp khi sinh" width="469" height="300" /></a></p>
<p><em>Sức sống của heo con có thể được cải thiện bằng cách cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho heo mẹ trong giai gần sinh con, giai đoạn chuyển tiếp từ lúc mang thai sang nuôi con.</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Đáp ứng với những thách thức trong quá trình chuyển tiếp</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Hỗ trợ heo nái bằng cách cải thiện chế độ dinh dưỡng trong giai đoạn gần sinh con, giai đoạn chuyển tiếp từ thời kỳ mang thai sang nuôi con, có thể có tác động đáng kể đến sức sống của heo con. Đây là trọng tâm của chương trình nghiên cứu trên heo gần đây và tiến đến phát triển chiến lược nuôi dưỡng Livelle Transition. Bước đột phá trong dinh dưỡng có thể giúp hỗ trợ cho heo nái có những lứa sinh kích thước lớn hơn, từ khi sinh con cho đến khi cai sữa.</p>
<p>Có 3 bước quan trọng trong giai đoạn chuyển tiếp:</p>
<p>1. tuần lễ trước khi sinh,</p>
<p>2. khi sinh con và,</p>
<p>3. tuần lễ nuôi con đầu tiên.</p>
<p>Những chuyển biến cơ thể heo nái diễn ra trong giai đoạn chuyển tiếp, được đánh dấu bởi sự cân bằng năng lượng âm và stress oxy hóa cao, như thể hiện trong hình 1. Những thay đổi này lớn hơn ở những heo nái có lứa sinh kích thước lớn và cần được chú ý đặc biệt về dinh dưỡng.</p>
<p><a href="http://nhachannuoi.vn/wp-content/uploads/2018/05/hinh-1-chuyen-tiep-heo-con.png"><img decoding="async" loading="lazy" class="aligncenter wp-image-17215 size-full" src="https://nhachannuoi.vn/wp-content/uploads/2018/05/hinh-1-chuyen-tiep-heo-con.png" sizes="(max-width: 469px) 100vw, 469px" srcset="https://nhachannuoi.vn/wp-content/uploads/2018/05/hinh-1-chuyen-tiep-heo-con.png 469w, https://nhachannuoi.vn/wp-content/uploads/2018/05/hinh-1-chuyen-tiep-heo-con-300x224.png 300w" alt="Điều chỉnh chế độ dinh dưỡng cho heo nái trong giai đoạn chuyển tiếp khi sinh" width="469" height="350" /></a></p>
<p><strong>1. Bắt đầu giai đoạn chuyển tiếp</strong></p>
<p>Giai đoạn chuyển tiếp bắt đầu từ tuần lễ trước khi nái sinh con. Quá trình trao đổi chất ở nái lúc này chuyển từ trạng thái đồng hóa sang dị hóa, hỗ trợ sự phát triển ở mức cao của bào thai, chuẩn bị cho cơ thể để sinh con, sản xuất sữa non và nuôi con từ sớm.</p>
<p><strong>2. Giai đoạn sinh con</strong></p>
<p>Thời gian sinh con không nên kéo dài quá 5 giờ, nhưng có thể thay đổi rất nhiều từ nái này đến nái khác. Thời gian này sẽ bị ảnh hưởng bởi tình trạng cơ thể của nái, khả năng huy động năng lượng và khoáng chất tăng lên, đặc biệt là canxi. Cung cấp đầy đủ nước và đảm bảo lượng thức ăn thu nhận, với khẩu phần được bổ sung hóa chất xơ lên men, axit amin dễ tiêu và cân bằng điện giải, sẽ hỗ trợ tốt cho quá trình nái sinh con.</p>
<p><strong>3. Nuôi con</strong></p>
<p>Quá trình sản xuất sữa bắt đầu ngay sau khi sinh con và tăng dần từng ngày, với tốc độ nhanh hơn so với lượng thức ăn mà nái ăn vào. Điều này gây ảnh hưởng đến sự huy động nguồn dự trữ trong cơ thể heo mẹ. Trong giai đoạn này, quản lý và nuôi dưỡng heo nái một cách chính xác có thể giúp cải thiện đáng kể khả năng sống sót của heo con.</p>
<p><strong>Tăng khả năng sống của heo con thêm 3%</strong></p>
<p>• Áp dụng chiến lược nuôi dưỡng trong giai đoạn chuyển tiếp như đã kể trên vào khẩu phần của heo nái từ lúc chuyển sang chuồng sinh cho đến khi bắt đầu nuôi con có thể thúc đẩy hiệu suất trong thời kỳ quan trọng này. Chương trình này bao gồm những sản phẩm giúp kích thích chức năng gan và tăng năng lượng cho nái lúc sanh và trong giai đoạn đầu nuôi con. Nghiên cứu cho thấy chương trình này có thể cải thiện khả năng sống của heo con thêm đến 3% và hạn chế hao hụt cơ thể của heo nái trong thời gian nuôi con.</p>
<p>• Chiến lược nuôi dưỡng còn bao gồm sản phẩm phụ gia chống oxy hóa và các vi chất dinh dưỡng thiết yếu, giúp hỗ trợ quá trình trao đổi chất của nái, sự phát triển của bào thai và hỗ trợ biện pháp chống oxy hóa.</p>
<p>• Thông qua công thức cân bằng với chất xơ lên men, cân bằng điện giải và axit amin dễ tiêu giúp đường ruột của nái thoải mái, tăng cường huy động khoáng và tăng cường sự tiết sữa.</p>
<p>Nghiên cứu mở rộng đã chứng minh được những lợi ích đáng kể của chương trình nuôi dưỡng trong giai đoạn chuyển tiếp. Kết quả thử nghiệm cho thấy có sự cải thiện về trọng lượng sơ sinh của heo con thêm 2.7% và tỷ lệ sống tăng thêm 2.1%, như ở hình 2. Những cải tiến này tương đương với việc có thêm 0.75 heo con hoặc 50kg thịt / nái / năm. Mức độ cải tiến sẽ khác nhau dựa trên mức hiệu suất ban đầu của nái.</p>
<p><a href="http://nhachannuoi.vn/wp-content/uploads/2018/05/hinh-2-heo-nai.png"><img decoding="async" loading="lazy" class="aligncenter wp-image-17216 size-full" src="https://nhachannuoi.vn/wp-content/uploads/2018/05/hinh-2-heo-nai.png" sizes="(max-width: 469px) 100vw, 469px" srcset="https://nhachannuoi.vn/wp-content/uploads/2018/05/hinh-2-heo-nai.png 469w, https://nhachannuoi.vn/wp-content/uploads/2018/05/hinh-2-heo-nai-300x174.png 300w" alt="Điều chỉnh chế độ dinh dưỡng cho heo nái trong giai đoạn chuyển tiếp khi sinh" width="469" height="272" /></a></p>
<p><strong>Cải thiện chế độ dinh dưỡng</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Cải thiện chế độ dinh dưỡng cho nái từ lúc cai sữa đến động dục lại cũng có thể mang lại lợi ích đối với khả năng sống của heo con về sau. Đây là giai đoạn từ 4 – 6 ngày khi nái đang phục hồi sau thời kỳ nuôi con và chuẩn bị lên giống lại. Một chế độ dinh dưỡng tốt hơn có thể cải thiện chất lượng sản xuất trứng; điểm khởi đầu cho một lứa sinh chất lượng đồng nhất.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>• Để giúp đạt được điều này, các nhà khoa học đã phát triển và thử nghiệm một loại thức ăn bổ sung giàu thành phần glycogenic giúp kích thích các hormone sinh sản và cung cấp vi dưỡng chất cần thiết cho sự phát triển phôi từ sớm.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>• Các thử nghiệm thực hiện bằng cách sử dụng chương trình nuôi dưỡng bổ sung giúp trọng lượng heo con sơ sinh tăng thêm đến 11.5%, như thể hiện trong hình 3. Trong cùng một thử nghiệm, heo nái được cho ăn thức ăn bổ sung có số heo nặng dưới 1kg ít hơn 40% so với nhóm đối chứng.</p>
<p><a href="http://nhachannuoi.vn/wp-content/uploads/2018/05/hinh-3-heo-nai.png"><img decoding="async" loading="lazy" class="aligncenter wp-image-17217 size-full" src="https://nhachannuoi.vn/wp-content/uploads/2018/05/hinh-3-heo-nai.png" sizes="(max-width: 469px) 100vw, 469px" srcset="https://nhachannuoi.vn/wp-content/uploads/2018/05/hinh-3-heo-nai.png 469w, https://nhachannuoi.vn/wp-content/uploads/2018/05/hinh-3-heo-nai-300x225.png 300w" alt="Điều chỉnh chế độ dinh dưỡng cho heo nái trong giai đoạn chuyển tiếp khi sinh" width="469" height="351" /></a></p>
<p><strong>Kết luận</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Trong thập kỷ qua, trung bình kích thước lứa sinh ở nhiều nái đã tăng hơn 30%. Số lượng heo con cai sữa không theo kịp thách thức sống còn về sau cũng tăng lên. Việc lựa chọn giống vật nuôi di truyền, quản lý và vệ sinh góp phần tăng khả năng sống sót của heo con. Áp dụng một chiến lược dinh dưỡng cụ thể cho heo nái từ giai cai sữa cho đến thời điểm động dục lại, và trong giai đoạn chuyển tiếp từ thời kỳ mang thai sang nuôi con giúp cải thiện hiệu suất của heo nái vượt bậc.</p>
<p>The post <a rel="nofollow" href="https://www.viet-acc.com/383-2/">Điều chỉnh chế độ dinh dưỡng cho heo nái trong giai đoạn chuyển tiếp khi sinh</a> appeared first on <a rel="nofollow" href="https://www.viet-acc.com">VIET-ACC</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://www.viet-acc.com/383-2/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
